Đường đi của nhớt 2T từ bình chứa đến động cơ
Trên xe 2 thì như Honda Nova, Nova Dash, NZ125R/NZ125RS, nhớt 2T không đổ chung trực tiếp vào bình xăng trong điều kiện sử dụng bình thường. Xe có một hệ thống bôi trơn riêng gồm bình chứa nhớt, đường ống, bơm nhớt 2T và ống nhớt ra động cơ. Hiểu đúng đường đi của nhớt giúp anh em dễ kiểm tra khi xe xuất hiện bọt khí trong ống, hao nhớt bất thường, khói trắng quá nhiều hoặc nghi ngờ máy đang thiếu bôi trơn.
Tóm tắt đường đi: Bình nhớt 2T → ống nhớt cấp → bơm nhớt 2T → ống nhớt ra → đường nạp của động cơ → các chi tiết bên trong máy → buồng đốt → ống pô.
1. Nhớt 2T được chứa trong bình nhớt riêng
Nhớt bắt đầu từ bình nhớt 2T, thường được bố trí dưới yên hoặc phía trong dàn áo. Phía trên bình có nắp châm nhớt; phía dưới có đầu nối để dẫn nhớt xuống bơm. Một số xe còn có cảm biến báo mức nhớt gắn trên bình để bật đèn cảnh báo khi lượng nhớt xuống thấp.
Cần phân biệt rõ: cảm biến chỉ có nhiệm vụ báo mức nhớt, không bơm và cũng không điều khiển lượng nhớt đưa vào động cơ. Vì vậy, đèn báo không sáng chưa chắc hệ thống đang cấp nhớt bình thường. Nếu ống bị nghẹt, tuột hoặc còn nhiều bọt khí thì động cơ vẫn có thể thiếu nhớt dù trong bình còn đầy.
2. Nhớt đi từ bình chứa xuống bơm nhớt
Từ đầu ra dưới đáy bình, nhớt chảy qua ống nhớt cấp để đi xuống cửa hút của bơm nhớt 2T. Đây thường là đoạn ống có kích thước lớn hơn ống nhớt từ bơm đi lên động cơ.
Nhớt ở đoạn này chủ yếu chảy nhờ trọng lực, vì vậy đường ống phải thông thoáng, không bị gập, chai cứng hoặc bóp nghẹt. Các đầu ống phải được cắm sát và có kẹp giữ đúng vị trí để tránh rỉ nhớt hoặc hút không khí vào hệ thống.
Nếu vừa tháo bình nhớt, thay ống hoặc để bình cạn hoàn toàn, không khí có thể lọt vào đường cấp. Khi đó cần châm nhớt và thực hiện xả gió đúng kỹ thuật trước khi cho động cơ hoạt động bình thường.
3. Bơm nhớt 2T định lượng lượng nhớt cần thiết
Nhớt sau khi đi vào bơm sẽ được bơm nhớt 2T định lượng rồi đẩy sang phía động cơ. Bơm thường được dẫn động theo tốc độ quay của máy và liên kết với tay ga thông qua dây cáp hoặc cơ cấu điều khiển.
Khi xe chạy ga nhỏ, bơm cấp một lượng nhớt vừa đủ. Khi lên ga và động cơ làm việc nặng hơn, cơ cấu bơm mở lớn hơn để tăng lượng nhớt cấp vào. Nhờ vậy, tỷ lệ nhớt được thay đổi theo điều kiện vận hành thay vì cố định như cách pha nhớt trực tiếp vào xăng.
Trên thân bơm thường có dấu canh giữa tay bơm và thân bơm. Nếu dây bơm nhớt chỉnh quá căng hoặc quá chùng, lượng nhớt cấp có thể không còn đúng:
- Chỉnh thiếu: máy nóng, tiếng máy khô, dễ trầy piston và lòng xi-lanh.
- Chỉnh dư: xe ra khói nhiều, đóng muội bugi, máy dễ bị hụp và pô nhanh đóng cặn.
4. Nhớt từ bơm đi qua ống nhỏ lên đường nạp
Sau khi được định lượng, nhớt được đẩy qua ống nhớt ra. Đoạn ống này thường nhỏ và trong hoặc hơi đục để thợ có thể quan sát dòng nhớt cũng như phát hiện bọt khí.
Tùy thiết kế động cơ, nhớt có thể được đưa vào cổ hút, họng chế hòa khí hoặc một vị trí bôi trơn được nhà sản xuất bố trí sẵn. Tại đây, nhớt hòa vào dòng hòa khí xăng – gió trước khi đi vào bên trong động cơ.
Không nên tự ý đổi vị trí đấu ống nhớt. Cắm nhầm sang một đầu ống chân không, ống xăng hoặc ống nước sẽ khiến hệ thống không bôi trơn đúng và có thể gây hư máy rất nhanh.
5. Hòa khí mang nhớt vào bên trong động cơ
Khác với máy 4 thì có nhớt nằm trong các-te, động cơ 2 thì sử dụng lượng nhớt được đưa theo dòng hòa khí để bôi trơn các chi tiết chuyển động. Khi hòa khí có nhớt đi vào máy, lớp dầu mỏng sẽ hỗ trợ bôi trơn:
- Bạc đạn và các vị trí quay của trục khuỷu.
- Thanh truyền, chốt piston và bạc đạn đầu nhỏ.
- Piston, xéc-măng và lòng xi-lanh.
- Các bề mặt chịu ma sát trong quá trình hút, nén và sinh công.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bôi trơn, một phần nhớt đi cùng hòa khí vào buồng đốt và được đốt cháy. Phần khí cháy tiếp tục thoát ra ngoài qua đường pô. Đây là lý do xe 2 thì thường có mùi nhớt và một lượng khói đặc trưng, nhất là lúc máy nguội hoặc khi tăng ga.
Sơ đồ đường đi của nhớt 2T
- Bình nhớt 2T: chứa nguồn nhớt riêng cho hệ thống bôi trơn.
- Ống nhớt cấp: đưa nhớt từ đáy bình xuống cửa hút bơm.
- Bơm nhớt 2T: định lượng nhớt theo tốc độ máy và độ mở tay ga.
- Ống nhớt ra: đưa lượng nhớt đã định lượng đến đường nạp.
- Cổ hút hoặc họng chế hòa khí: nơi nhớt hòa vào dòng xăng – gió.
- Bên trong động cơ: nhớt bôi trơn trục khuỷu, bạc đạn, piston và xi-lanh.
- Buồng đốt và ống pô: nhớt được đốt cùng hòa khí rồi thải ra ngoài.
Những vị trí cần kiểm tra trên đường nhớt
Khi kiểm tra hệ thống nhớt 2T, không nên chỉ nhìn lượng nhớt trong bình. Cần kiểm tra toàn bộ đường đi:
- Bình nhớt có bị nứt, rỉ hoặc đóng cặn dưới đáy hay không.
- Nắp bình và lỗ thông hơi có hoạt động bình thường không.
- Ống nhớt cấp có bị gập, chai cứng, nghẹt hoặc tuột khỏi đầu nối không.
- Các kẹp ống có giữ kín và đúng vị trí không.
- Trong ống nhớt ra có bọt khí lớn hoặc đoạn trống kéo dài không.
- Bơm nhớt có rỉ dầu, kẹt tay bơm hoặc sai dấu canh không.
- Dây điều khiển bơm có bị chùng, kẹt hoặc sắp đứt không.
- Đầu ống đi vào đường nạp có bị lỏng, nứt hoặc cắm sai vị trí không.
Dấu hiệu dòng nhớt 2T có thể đang gặp vấn đề
- Ống nhớt xuất hiện khoảng trống hoặc bọt khí lớn không di chuyển.
- Mức nhớt trong bình không giảm sau thời gian dài sử dụng.
- Nhớt tụt nhanh bất thường nhưng bên ngoài không thấy khói tương ứng.
- Có nhớt rỉ quanh bình, thân bơm hoặc các đầu nối ống.
- Máy nóng nhanh, phát tiếng khô hoặc có tiếng gõ bất thường.
- Xe ra khói quá nhiều, bugi thường xuyên bị ướt và đóng muội.
- Sau khi tháo đường ống hoặc thay bơm, xe chưa được xả gió đúng cách.
Lưu ý quan trọng: Không nên dựa vào khói pô để kết luận bơm nhớt đang hoạt động tốt. Khói còn phụ thuộc loại nhớt, nhiệt độ máy, tình trạng pô, chế hòa khí và lượng xăng. Muốn kiểm tra chính xác phải quan sát đường ống, dấu canh bơm và lưu lượng cấp theo quy trình kỹ thuật.
Có nên pha thêm nhớt trực tiếp vào bình xăng?
Trong điều kiện hệ thống hoạt động bình thường, không nên tự ý pha thêm nhớt vào bình xăng vì có thể làm sai tỷ lệ, khiến xe khói nhiều, đóng muội bugi và nghẹt pô. Việc pha hỗ trợ chỉ nên thực hiện trong một số trường hợp sửa chữa đặc biệt, chẳng hạn sau khi tháo đường nhớt, thay bơm hoặc cần chạy kiểm tra trong lúc xả gió. Tỷ lệ và thời gian sử dụng phải do thợ có kinh nghiệm xác định.
Lưu ý sau khi tháo bình, thay ống hoặc sửa bơm nhớt
- Châm đúng loại nhớt dành cho động cơ 2 thì.
- Không để bụi, nước hoặc giẻ vụn lọt vào bình nhớt.
- Lắp đúng đường ống và đúng chiều tại từng đầu nối.
- Xả hết không khí trong đường cấp vào bơm.
- Mồi nhớt cho đường ra nếu quy trình sửa chữa yêu cầu.
- Kiểm tra dấu canh bơm và độ rơ dây điều khiển.
- Cho máy chạy kiểm tra, quan sát rò rỉ trước khi ráp hoàn chỉnh dàn áo.
Kết luận
Đường đi của nhớt 2T tuy không quá phức tạp nhưng mỗi vị trí đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bôi trơn động cơ. Nhớt phải đi liên tục từ bình chứa, qua ống cấp, vào bơm, qua ống nhớt ra rồi hòa vào đường nạp trước khi đến các chi tiết bên trong máy. Chỉ cần một đoạn ống bị nghẹt, một đầu nối bị hở hoặc bơm chỉnh sai là động cơ có thể thiếu nhớt và hư hỏng nặng.
Khi thay ống, bơm nhớt, bình nhớt hoặc các chi tiết liên quan, nên chọn phụ tùng đúng đời xe và có chất lượng tốt. Nếu chưa quen quy trình xả gió, mồi nhớt và kiểm tra lưu lượng, anh em nên mang xe tới thợ chuyên dòng xe 2 thì để xử lý an toàn.